|
|
- Mỗi ư chỉ được áp dụng cho một thánh lễ cho dù bổng lễ bé nhỏ (Gl 948)
- Nếu người xin lễ dâng một món tiền và không nói rơ số lễ, th́ số tiền ấy
phải được chia theo mức giá bổng lễ hiện tại ở nơi người xin lễ cư trú. Trừ
khi có lư do phỏng đoán hợp lệ là người dâng có hảo ư khác (Gl 950).
Giá bổng hiện tại ở nơi người xin:
Ví dụ, một linh mục từ VN qua Mỹ mà có một người tới đưa 50 Đôla và xin cha
làm lễ. B́nh thường th́ vị linh mục phải dâng 10 lễ v́ giá bổng lễ ở Mỹ được
quy định là 5 Đôla (?). Nếu một Việt Kiều về VN đến đưa cho một linh mục 50
Đôla và xin cha làm lễ, th́ vị linh mục chỉ dâng 5 lễ, v́ giá quy định ở VN
trung b́nh là 10 Đôla (có
một cha xứ khẳng định rằng Đức Tổng Giám Mục Grigelli nói ở Tp HCM là 10
Euro; Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích, DCCT, trả lời vấn đề này trên “Tập Báo Mẹ
Hiền” tháng 8 năm 2013 rằng: Ṭa Giám Mục TP. HCM ấn định bổng lễ trong giáo
phận là 250.000đ).
Lư do phỏng đoán hợp lệ:
Nghĩa là vị linh mục có đủ lư do tin rằng người dâng, ngoài việc xin lễ cầu
nguyện th́ c̣n có hảo ư khác như muốn giúp đỡ hay dâng tặng cho vị linh mục.
Chẳng hạn, một linh mục VN sang Mỹ đi quyên góp tài chánh để xây nhà thờ, có
người gửi dâng 100 Đôla và kèm theo lời xin lễ cầu b́nh an cho gia đ́nh
nhưng không nói rơ số lễ, th́ vị linh mục có thể dâng một lễ và suy đoán
rằng số tiền này là người dâng có hảo ư giúp ḿnh trong việc xây nhà thờ.
Hoặc có một ân nhân đến dâng 1 triệu đồng và xin lễ cầu b́nh an, vị ân nhân
này thỉnh thoảng đến tặng biếu cho vị linh mục một vài triệu đồng, th́ vị
linh mục có thể suy đoán chắc rằng người dâng có hảo ư giúp ḿnh nên chỉ cần
làm 1 ư lễ và không cần phải chia 1 triệu đó theo mức giá bổng lễ hiện tại
là mỗi ư lễ là 200.000đ (hoặc 250.000đ). Cũng vậy, trong trường hợp một linh
mục đến đồng tế lễ an táng, hay lễ cưới, hoặc đi làm phép nhà… sau thánh lễ
hay làm phép nhà, người nhà đưa một phong b́ và xin cầu nguyện th́ suy đoán
hợp lư rằng người ấy muốn tặng món tiền đó cho vị linh mục.
Gửi bổng lễ khác về Đấng Bản Quyền
Trừ ngày lễ Giáng Sinh, mỗi ngày tư tế chỉ được hưởng một bổng lễ. Những
bổng lễ khác (binates
or trinates etc.) phải nhường về các mục đích do đấng bản quyền quy
định. Tuy nhiên linh mục được nhận một phần bổng lễ đó cho những chi phí
ngoại tại (Gl 951 #1).
Các bổng
lễ khác (binates
or trinates etc.) gửi về đấng bản quyền của tư tế, nghĩa là các linh mục
triều gửi các bổng lễ khác về cho Giám mục hoặc đấng bản quyền địa phương
của họ, c̣n các tu sỹ linh mục (linh mục ḍng) gửi về cho bề trên cao cấp
của họ. Tuy nhiên, tất cả các cha xứ dù là linh mục triều hay ḍng đều buộc
gửi về Giám mục địa phận các bổng lễ khác mà họ nhận được qua chính giáo xứ.
Tuy vậy, một linh mục ḍng mà là cha chính xứ hoặc quản nhiệm xứ và linh mục
cử hành thánh lễ hai hay ba mà các bổng lễ khác vị linh mục này nhận được từ
chính ḍng tu của ḿnh th́ các bổng lễ khác đó được gửi cho bề trên cao cấp
của họ. Bởi v́ ư của người xin là muốn giúp đỡ tu viện.
Ngoài ra, một linh mục viếng thăm (văng lại) được trao quyền làm lễ ở giáo
xứ th́ các bổng lễ khác (binates or trinates) được gửi về cho chính đấng bản
quyền của linh mục ấy – bề trên cao cấp. Ví dụ, một linh mục SJ của tỉnh
ḍng VN không phải là cha xứ (giáo xứ Hiển Linh) ra làm lễ ở giáo xứ (Hiển
Linh hay ở bất cứ một giáo xứ nào) th́ các bổng lễ khác được gửi về cho đấng
bản quyền của linh mục SJ đó – cha Giám Tỉnh. Trong trường hợp một linh mục
triều thuộc địa phận (Hà Nội,…) đến làm lễ ở giáo xứ Hiển Linh th́ bổng lễ
khác được gửi về cho Giám mục địa phận (Hà Nội,…).
(Xem John P. Beal, James A. Coriden, Thomas J. Green, New
Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P.
1133)[1].
Nếu một linh mục đă cử hành hay đồng tế một thánh lễ, th́ thánh lễ đồng tế
thứ hai trong ngày vị linh mục không có quyền nhận bổng lễ nữa dưới bất cứ
danh nghĩa nào (X. Gl 951 #1). Việc đồng tế này cho dù trước hay sau thánh
lễ khác được cử hành. Nghĩa là nếu buổi sáng linh mục đồng tế thánh lễ và
buổi chiều cử hành thánh lễ, th́ linh mục chỉ được nhận bổng lễ thánh lễ ban
chiều.
Trong trường hợp vị linh mục nghĩ là ngày hôm đó chỉ đồng tế thánh lễ ban
sáng nên đă nhận bổng lễ, nhưng ban chiều v́ một lư do cần thiết phải cử
hành thánh lễ nữa th́ được nhận bổng lễ cho mỗi thánh lễ, và linh mục giữ
một bổng lễ cho ḿnh, bổng lễ c̣n lại áp dụng nguyên tắc “binates” gửi về
đấng bản quyền theo qui định.
Hưởng một phần bổng lễ khác:
Ở một số địa phận đấng bản quyền quy định tư tế được nhận một phần hai hay
hai phần ba (hoặc một bổng lễ nữa nếu thánh lễ thứ hai là lễ gộp) bổng lễ từ
thánh lễ thứ hai. Lư do v́ linh mục phải bỏ công sức và những chi phí như đi
lại, ăn uống,… cho thánh lễ thứ hai.
Gộp các ư lễ[2]
Theo giáo luật, mỗi ư lễ được áp dụng cho một thánh lễ (x. Gl 948). Tuy
nhiên trong thực tế, trong các thánh lễ, đặc biệt là thánh lễ ngày Chúa nhật
có nhiều người xin lễ và ai cũng sẵn sàng và muốn linh mục chủ tế ngày hôm
đó làm lễ theo ư họ xin để họ cùng tham dự và cầu nguyện. Vậy phải giải
quyết vấn đề này thế nào?
Dự trù t́nh huống này, Giáo luật nói “Nếu
tại những nhà thờ hay nhà nguyện người ta xin cử hành lễ quá số có thể cử
hành ở đó, th́ có thể cử hành ở nơi khác, trừ
khi những người xin lễ minh thị bày tỏ ư định ngược lại” (Gl 954).
Ngày 22/01/1991, Bộ Giáo Sỹ ban hành một Sắc lệnh[3] hướng
dẫn và cho phép các linh mục gộp các ư lễ với các điều kiện sau :
(1) Phải cho người xin lễ biết và được họ đồng ư là lễ họ xin được dâng
chung với một ư lễ khác.
(2) Thời gian và nơi chốn dâng lễ gộp phải được công bố.
(3) Không được gộp hơn hai lần trong một tuần.
(4) Linh mục cử hành có thể giữ một bổng lễ và phải gửi về bản quyền của
ḿnh những bổng lễ khác theo giáo luật điều 951 triệt 1.
Như vậy, các linh mục được gộp ư lễ 2 lần mỗi tuần miễn là đáp ứng đủ các
điều kiện trên.
Thiết tưởng cũng nên hiểu rằng, theo giáo luật điều 954 và sắc lệnh của Bộ
Giáo Sỹ cho phép cử hành thánh lễ gộp các ư lễ th́ tất cả các ư lễ gộp đă
được làm trong thánh lễ đó và sẽ không phải làm lại. Bởi có một số linh mục
sau khi cử thánh lễ gộp các ư lễ xong, lại lấy các ư lễ đă gộp đó làm lại
mỗi ngày một ư lễ hoặc đem các ư lễ đó gửi cho linh mục khác làm. Theo quy
định trên, vị linh mục sau khi đă cử hành thánh lễ gộp các ư lễ, chỉ giữ cho
ḿnh 1 bổng lễ, c̣n các bổng lễ khác được gửi về đấng bản quyền theo quy
định như đă tŕnh bày ở trên.
Phêrô Nguyễn Đức Trí, SJ
-------------
[1]The
other offerings go to his ordinary, namely, the local ordinary for the
diocesan clergy and the major superior for members of clerical religious
institutes and societies of apostolic life. All pastors and parochial
vicars, not just diocesan priests, are bound to send the offering for
additional Masses celebrated each day to the local ordinary. This rule
applies only to parish Masses for which offerings have been received through
the parish. Thus, a religious priest who is pastor or parochial vicar and
who binates with an offering received from the sacristan of his own
religious institute should send that offering to his own ordinary, not to
the local ordinary, since the intention of the donor was to benefit the
institute, not the diocese. Moreover, a visiting priest in the parish is
entitled to all offerings for the Masses he celebrates, including binations
and trinations, which he then sends to his own ordinary, not the local
ordinary, unless they are the same (John P. Beal, James A. Coriden, Thomas
J. Green, New
Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P.
1133.
[2]In 1991 the Congregation for the Clergy derogated from this canon to permit priests to accept several offerings for a "collective intention" at a single Mass. The following regulations must be observed if this practice is followed:
(1) the donors must be informed of and consent to the combining of their offerings before the Mass for the collective intention is celebrated;
(2) the place and time for the Mass must be announced;
(3) the practice may not be observed more than twice a week;
(4) the celebrant may keep for himself no more than the usual amount of a single Mass offering and must send any excess to his ordinary in keeping with canon 951, § 1.
(See John P. Beal, James A. Coriden, Thomas J. Green, New Commentary on the Code of Canon Law, New York: Paulist Press, 2000, P. 1132)
[3] Xem AAS 83 (1991) 443-446, BCL Newsletter 27 (1991)